Mục tiêu của bình đẳng giới là xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng thực chất giữa nam và nữ và thiết lập củng cố quan hệ hợp tác giữu nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình quy định các quyền bình đẳng giới

        Ở nước ta vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một mục tiêu to lớn của Đảng và Nhà nước đã được khẳng định trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong hiến pháp qua các thời kỳ và được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc trao quyền bình đẳng cho nam và nữ trên tất cả các lĩnh vực.  Mặt dù vấn đề bình đẳng giới được ghi nhận rải rác trong nhiều văn bản luật như: Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật lao động, luật giáo dục, bộ luật hình sự … nhưng chưa có văn bản riêng để điều chỉnh nên việc giải quyết vấn đề bình đẳng giới còn nhiều bất cập. Do đó, ngày 29/11/2006 Quốc hội đã thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới; Nghị định số: 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới; Nghị định 48/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bình đẳng giới. việc Luật Bình đẳng giới được ban hành cùng với các quy phạm pháp luật được ghi nhận trong các văn bản luật khác đã đưa việc giải quyết các vấn đề về bình đẳng giới lên tầm cao mới. Luật Bình đẳng giới quy định những nội dung cơ bản sau: 

Trước hết, là xác định mục tiêu của bình đẳng giới là xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng thực chất giữa nam và nữ và thiết lập củng cố quan hệ hợp tác giữu nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình quy định các quyền bình đẳng giới cụ thể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình như sau:

Một là, bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị: theo quy định này nam nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; bình đẳng trong việc tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng, nội quy, quy chế của cơ quan tổ chức. Nam nữ có quyền tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan lãnh đạo của tổ chức xã hội nói chung. Nam, nữ bình đẳng trong việc đề bạt, bổ nhiệm vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nếu có cùng tiêu chuẩn về chuyên môn, độ tuổi.

Hai là, quyền được đối xử bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế như phụ nữ cũng có quyền được thành lập doanh nghiệp, tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp; bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động để phát triển hoạt động kinh doanh đó như nam giới.

Ba là, bên cạnh quyền bình đẳng trong kinh doanh, nam và nữ còn bình đẳng trong lĩnh vực lao động như: được tuyển dụng khi có cùng tiêu chuẩn, độ tuổi, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc, điều kiện lao động, tiền công, tiền thưởng, chế độ bảo hiểm xã hội và các chế độ chính sách khác. ……

Bốn là, nam, nữ bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo như bình đẳng trong độ tuổi đến trường, đào tạo, bồi dưỡng, ngang quyền trong việc lựa chọn ngành, nghề đào tạo, được tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Đặc biệt, quy định này dành quyền ưu tiên cho cán bộ viên chức nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hưởng các chế độ ưu đãi do Chính phủ quy định khi tham gia bồi dưỡng học tập, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để phụ nữ nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngang bằng với nam giới.

Năm là. quyền bình đẳng trong lĩnh vực khoa học công nghệ: theo đó luật bình đẳng giới xác định nam, nữ có quyền tiếp cận, ứng dụng khoa học công nghệ; được quyền tham gia các khóa đào tạo về khoa học công nghệ, quyền bình đẳng trong việc công bố, phổ biến kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học như phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích…

Sáu là, bình đẳng trong việc tham gia các phong trào trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao và hưởng thụ văn hóa, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin.

Bảy là, nam, nữ bình đẳng nhau trong việc tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe theo đó họ không chỉ được nghe các thông tin được tuyên truyền, mà còn được tham gia tuyên truyền các thông tin đó đến cho người khác, họ được sử dụng các dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, quyền lựa chọn và quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục để bảo vệ sức khỏe không chỉ là việc của riêng của chị em phụ nữ mà còn là trách nhiệm của nam giới. Để bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ, Chính phủ còn quy định nhiều chính sách ưu tiên hổ trợ cho phụ nữ nghèo, cư trú ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số của nhà nước.

Tám là, bình đẳng giới trong gia đình theo đó vợ chồng bình đẳng với nhau trong các quan hệ dân sự và quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình, có quyền ngang nhau trong việc thực hiện quyền sở chung đối với tài sản chung, nguồn thu nhập chung, cùng nhau quyết định các nguồn lực để  bảo đảm cuộc sống trong gia đình. Vợ chồng cùng bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng các biện pháp tránh thai phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm hợp lý. Cha mẹ có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu con trai cũng như con gái, Luật bình đẳng giới cấm mọi hành vi phân biệt đối xử giữ các con trong gia đình. Trách nhiệm chia sẻ công việc trong gia đình là trách nhiệm chung của các thành viên sống trong một gia đình, như chăm sóc con cái, trách nhiệm chia sẻ công việc nội trợ, những công việc không tên khác…những công việc mà lâu nay nam giới cho rằng đó là công việc của người phụ nữ trong gia đình.

Bên cạnh đó Luật Bình đẳng giới cũng quy định các biện pháp bảo đảm trong quá trình thực hiện bình đẳng giới như quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia thụ hưởng các mục tiêu bình đẳng giới. Tùy vào từng công việc mà quy định các tiêu chuẩn đặc thù cho nam và nữ, tạo mọi điều kiện để phụ nữ cũng có điều kiện được lựa chọn cơ hội làm việc, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng… như nam giới. Để tạo cơ sở pháp lý cho bình đẳng giới luật Bình đẳng giới xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm các nguyên tắc bình đẳng giới và xem đây là một trong những căn cứ quan trọng để rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bảng quy phạm pháp luật. Các biện pháp bảo đảm còn thể hiện ở công tác lồng ghép và tuyên truyền về giới và bình đẳng giới trên các lĩnh vực hoạt động của xã hội.

 Luật Bình đẳng giới cũng xác định trách nhiệm của tất cả cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới, nó không còn là trách nhiệm của nhà nước mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mọi hành vi,vi phạm quyền bình đẳng về giới đều được xử lý kịp thời và nghiêm minh.

 

 

Tư pháp xã


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



Bản đồ hành chính
 Liên kết website
Thống kê: 132.104
Online: 15